Ngày 16/06/2025, Quốc hội đã thông qua Luật Việc làm số 74/2025/QH15 (“Luật Việc làm 2025”). Luật Việc làm 2025 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026 và thay thế Luật Việc làm số 38/2013/QH3 được Quốc hội thông qua vào ngày 16/11/2013 (“Luật Việc làm 2013”).
Sau đây chúng tôi xin tổng hợp một số quy định mới đáng chú ý của Luật Việc làm 2025 so với Luật Việc làm 2013:
1. Thông tin đăng ký lao động và cơ sở dữ liệu về người lao động
Luật Việc làm 2025 lần đầu tiên quy định người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) và người lao động (“NLĐ”) phải đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động khi đăng ký, điều chỉnh thông tin tham gia bảo hiểm xã hội (“BHXH”).
Thông tin đăng ký lao động của NLĐ bao gồm: (a) Nhóm thông tin cơ bản: họ, chữ đệm và tên khai sinh; số định danh cá nhân; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; nơi ở hiện tại; (b) Nhóm thông tin về giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, chứng chỉ kỹ năng nghề và các chứng chỉ khác; (c) Nhóm thông tin về tình trạng việc làm và nhu cầu về việc làm; (d) Nhóm thông tin về BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (“BHTN”); (đ) Nhóm thông tin khác về đặc điểm, đặc thù của người đăng ký.
Thông tin này được kết nối, cập nhật, đồng bộ, chia sẻ từ Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác theo quy định của Luật Việc làm, pháp luật về dữ liệu và quy định khác của pháp luật có liên quan; và Cơ sở dữ liệu về NLĐ được xây dựng và quản lý tập trung, thống nhất toàn quốc theo quy định của pháp luật về dữ liệu.
Chính phủ sẽ quy định chi tiết hồ sơ, trình tự, thủ tục, nơi đăng ký lao động cũng như việc tiếp nhận, quản lý, khai thác, kết nối, chia sẻ, sử dụng cơ sở dữ liệu về NLĐ.
2. Dịch vụ việc làm
Luật Việc làm 2025 sửa đổi
(a) Nội dung dịch vụ việc làm, theo đó “Dịch vụ việc làm” bao gồm tư vấn, giới thiệu việc làm; cung ứng và giới thiệu lao động cho NSDLĐ; thu thập, phân tích, lưu trữ, cung cấp thông tin về thị trường lao động; và
(b) Tổ chức dịch vụ việc làm, sẽ bao gồm Tổ chức dịch vụ việc làm công (thay cho Trung tâm dịch vụ việc làm) và Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm;
trong đó doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm tiếp tục được quy định là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật về doanh nghiệp và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm khi có cơ sở vật chất, nhân sự đáp ứng yêu cầu hoạt động dịch vụ việc làm, đã ký quỹ và phải duy trì các điều kiện này trong suốt quá trình hoạt động; và được thành lập chi nhánh. Tuy nhiên, Luật Việc làm 2025 đã quy định cụ thể hơn doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm được thành lập chi nhánh chỉ khi chi nhánh có cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu hoạt động dịch vụ việc làm và phải thực hiện thông báo cho cơ quan chuyên môn về việc làm của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính trước khi thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm.
3. Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Luật Việc làm 2025
(a) mở rộng đối tượng tham gia BHTN. Theo đó,
(i) Đối tượng tham gia BHTN bao gồm:
• Người làm việc theo hợp đồng lao động (“HĐLĐ”) không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên (thay vì đủ 03 tháng trở lên theo Luật Việc làm 2013), kể cả trường hợp NLĐ và NSDLĐ thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;
• NLĐ làm việc theo HĐLĐ nêu trên làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (chúng tôi xin lưu ý Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25/06/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về BHXH bắt buộc hướng dẫn khi chưa bãi bỏ mức lương cơ sở thì mức tham chiếu quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội bằng mức lương cơ sở);
• Người làm việc theo hợp đồng làm việc( );
• Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã có hưởng tiền lương (đây là đối tượng mới).
(ii) Ngoài ra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc tham gia BHTN đối với các đối tượng khác mà có việc làm, thu nhập ổn định, thường xuyên trên cơ sở đề xuất của Chính phủ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ.
(b) quy định rõ
(i) Trong trường hợp NLĐ đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia BHTN khác nhau nêu tại điểm (i), mục (a) ở trên thì NLĐ và NSDLĐ (chứ không chỉ NSDLĐ của HĐLĐ giao kết đầu tiên như quy định tại Luật Việc làm 2013) có trách nhiệm tham gia BHTN cùng với việc tham gia BHXH bắt buộc; và
(ii) NLĐ thuộc các trường hợp nêu tại điểm (i), mục (a) ở trên mà đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hằng tháng theo quy định của Chính phủ hoặc đủ điều kiện hưởng lương hưu; NLĐ đang làm việc theo hợp đồng thử việc theo quy định của pháp luật lao động; NLĐ là người giúp việc gia đình thì không thuộc đối tượng tham gia BHTN.
4. Đóng bảo hiểm thất nghiệp
Luật Việc làm 2025
(a) Nêu rõ NSDLĐ có trách nhiệm đóng đủ BHTN (nhưng lại xóa bỏ quy định NSDLĐ phải tham gia BHTN cho NLĐ tại tổ chức BHXH trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc có hiệu lực theo Luật Việc làm 2013); và, việc xử lý hành vi chậm đóng, trốn đóng BHTN được thực hiện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
(b) Đồng thời, bổ sung quy định về trách nhiệm của NSDLĐ trong trường hợp không đóng đủ BHTN cho NLĐ khi chấm dứt HĐLĐ/ hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc thì phải trả khoản tiền tương ứng với các chế độ BHTN mà NLĐ được hưởng theo quy định của pháp luật.
(c) Quy định mềm dẻo hơn mức đóng BHTN tối đa là 1% thay vì ấn định mức đóng bằng 1% theo Luật Việc làm 2013; và cho phép Chính phủ quy định việc giảm mức đóng BHTN trong trường hợp khủng hoảng, suy thoái kinh tế, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm, căn cứ tình hình thực tế và kết dư Quỹ BHTN để đảm bảo tính linh hoạt của chính sách và tăng cường sự chủ động điều hành của Chính phủ.
(d) Bổ sung các quy định
(i) Hướng dẫn
• Trường hợp NLĐ ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc;
• Đối với NLĐ làm việc theo HĐLĐ hưởng tiền lương theo sản phẩm, theo khoán tại doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì NSDLĐ đăng ký với cơ quan BHXH và thực hiện đóng BHTN hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần. Thời hạn đóng chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng.
(ii) Cho phép
• Tiền đóng bảo BHTN thuộc trách nhiệm của NSDLĐ phải đóng cho NLĐ là người khuyết tật được giảm trong thời gian không quá 12 tháng để khuyến khích tuyển mới và sử dụng NLĐ là người khuyết tật.
• NLĐ và NSDLĐ tạm dừng đóng BHTN nếu NLĐ đang tham gia BHTN mà bị tạm giam, tạm đình chỉ công việc; trường hợp NLĐ được truy lĩnh đủ tiền lương thì NLĐ và NSDLĐ đóng bù cho thời gian bị tạm giam, tạm đình chỉ công việc bằng số tiền phải đóng của những tháng tạm dừng đóng và thực hiện đồng thời với việc đóng bù BHXH bắt buộc. Việc truy thu, truy đóng BHTN thực hiện cùng với việc truy thu, truy đóng BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật về BHXH.
5. Các chế độ bảo hiểm thất nghiệp
Luật Việc làm 2025 tiếp tục quy định 4 chế độ BHTN tương tự Luật Việc làm 2013; tuy nhiên, các chế độ được quy định rõ, mở rộng thêm quyền lợi cho NLĐ và NSDLĐ như sau:
(a) Chế độ “Hỗ trợ học nghề”: được mở rộng thành chế độ “Hỗ trợ NLĐ tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề”; theo đó NLĐ không chỉ được hỗ trợ đào tạo nghề, kỹ năng mà còn được hỗ trợ tiền ăn trong thời gian tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề, giúp giảm bớt khó khăn cho người thất nghiệp khi tham gia học nghề.
(b) Chế độ “Trợ cấp thất nghiệp”: bổ sung trường hợp NLĐ nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu thì không được hưởng trợ cấp thất nghiệp; giảm thời gian chờ đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp từ 15 ngày xuống còn 10 ngày làm việc.
(c) Chế độ “Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ”: rút gọn đối tượng được hỗ trợ với tên gọi chế độ “Hỗ trợ NSDLĐ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ”, theo đó bổ sung quyền lợi của NSDLĐ trong trường hợp ảnh hưởng đến việc làm hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến việc làm của nhiều NLĐ tham gia BHTN; và sửa đổi các điều kiện để áp dụng chế độ hỗ trợ này, trong đó:
• làm rõ lý do bất khả kháng là: (i) Thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm; hoặc (ii) Thực hiện theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất kinh doanh;
• sửa đổi điều kiện về đóng BHTN, theo đó BHTN phải được đóng đủ từ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ (thay cho đã đóng từ đủ 09 tháng trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật theo Luật Việc làm 2013);
• bổ sung điều kiện “Có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm”; và
• xóa bỏ điều kiện “Không đủ kinh phí để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho NLĐ”.
—–


